SSDH – Bạn đã nắm rõ các chương trình học, các bậc đại học ở mỹ.
I. Những thông tin cơ bản về hệ thống giáo dục Mỹ
1. Các trường dạy cấp độ sau trung học
Ở Mỹ, dạy bậc sau trung học chỉ có 2 lọai trường
Lọai trường thứ 1 là two-year college hay con gọi là Community College (Cao đẳng cộng đồng). Lọai trường này chỉ dạy 2 năm và cấp bằng trung cấp. Sau khi học xong ở two-year college, các bạn có thể chuyển tiếp lên học tiếp năm 3 và năm 4 ở các trường lớn hoặc ra đi làm.
Lọai trường thứ 2 là four-year college (trường ĐH). Lọai trường này dạy bậc ĐH (SV tốt nghiệp sau 4 năm học) trở lên và cấp bằng cử nhân hoặc cả bằng thạc sĩ, tiến sĩ.
2. Các loại trường “four-years”: College versus University
Các trường four-year (4 năm) bao gồm 2 lọai trường: College và University. Về trình độ ở bậc ĐH, 2 lọai trường này không có sự chêng lệch nào cả. Dưới đây là những sự khác biệt duy nhất về 2 lọai trường này:
Về các lọai bằng cấp: trường College thường chỉ cấp bằng Cử nhân, hiếm khi cấp bằng Thạc sĩ hay tiến sĩ (VD: Williams College, Amshurst College). Còn trường University cấp cả bằng cử nhân lẫn thạc sĩ và tiến sĩ.
Về sĩ số: các trường college có dưới 3000 sinh viên. Còn trường University thường có sĩ số từ 3000 SV trở lên.
Ngoài ra, trường University còn dùng để chỉ 1 trường tổng hợp bao gồm nhiều trường nhỏ. Trong đó, trường college là 1 trường thành viên dạy bậc ĐH, các trường thành viên còn lại dạy bậy sau ĐH. Ví Dụ: Harvard University bao gồm Harvard College (trường dạy bậc ĐH), Harvard Business School (thạc sĩ quản trị kinh doanh MBA hoặc tiến sĩ DBA), Harvard Medical School (trường đào tạo tíên sĩ y khoa Doctor of Medicine MD), Harvard Law School (trường đào tạo tiến sĩ luật Juris Doctor JD).
3. Liberal Art College:
Đây là 1 lọai hình giáo dục chỉ có ở Mỹ. Các trường Four-year thường có lọai hình này. Các SV trường Liberal Arts College, ngòai những chuyên ngành phải học, còn phải được đào tạo tòan diện các yếu tố khác trong cuộc sống và được giáo dục theo diện rộng như (xin phép được ghi tiếng Anh) critical and analytical thinking, vocational, etc. Và họ bắt buộc phải học những môn Đại cương trong 2 năm đầu. Đến năm 3 mới tuyên bố ngành học.
Một số VD về trường Liberal Arts College: Williams College, Wellesley College, Colgate University, Colby College, etc.

4. Ivy League School:
Thuở xa xưa, 1 số trường ĐH liên kết với nhau để tạo thành các đội thi đấu thể thao với các trường khác (nên mới có chữ League trong đó). Sau này, cái tên Ivy League Schools cũng được dùng để chỉ các trường này. Có tất cả 8 trường trong nhóm Ivy League Schools, và các trường này luôn luôn giữ các thứ hạng cao trong các bảng xếp hạng National University. 8 trường này bao gồm: Harvard University, Yale University, Columbia University, Brown University, Cornell University, Dartmouth College, Princeton University and the University of Pennsylvania.
II. Chính sách hỗ trợ tài chính và học bổng:
Có 2 loại SV nộp đơn xin xét tuyển vào ĐH Mỹ: SV Mỹ (US citizens and US permanent residents) và SV du học Quốc tế (International Students). Ở đây chỉ đề cập đến chính sách hỗ trợ tài chính dành cho SV du học Quốc tế như chúng ta.
Có 2 lọai học bổng: need-based financial aid (Hỗ trợ học bổng dựa vào tình hình tài chính của gia đình) và merit-based scholarship (học bổng dựa vào học lực của SV). Đa số du học sinh Việt Nam nộp vào các trường và đa số các trường hỗ trợ bằng need-based aid nên ở đây chỉ đề cập đến need-based aids.
1. Nói thêm về Need-based financial aids.
Need-based (dựa trên nhu cầu tài chính của thí sinh) nghĩa là sao? Nghĩa là SV được nhận cần bao nhiêu tiền thì trường sẽ cho bấy nhiêu. 1 “gói” hỗ trợ tài chính (need-based financial aid package) sẽ bao gồm cả 3 phần: học bổng (grant) nghĩa là phần tiền cho free không hòan lại (chiếm khỏang 90% financial package), tiền vay mượn (loan) nghĩa là phải trả lại sau khi ra trường và có việc làm (chiếm khỏang 5% của 1 gói HTTC), công việc trong trường (on-campus job) chiếm khỏang 5%.
Ví dụ. 1 sinh viên sau khi đã được nhận vào Harvard sẽ được xét cho need-based financial aid. Tổng chi phí ở Harvard là $42,000/năm. Cha mẹ anh ta chỉ có thể trả $2,000 một năm mà thôi. Như vậy, anh ta cần $40,000. Trường sẽ cho anh ta HTTC là $40,000. Trong đó, học bổng không hòan lại khỏang $36,000, tiền mượn là $2,000 và on-campus job sẽ là $2,000.
Có rất nhiều trường hợp SV được nhận vào và cha mẹ không phải đóng một khoản tiền nào. Do các cơ chế của need-based, cha mẹ có thu nhập quá thấp thì need-based financial aid có thể lên đến 100% tổng chi phí học tập lẫn sinh họat. Vì vậy, các bạn đừng lo lắng đến vần đề tài chính của gia đình mình mà điều cần thiết là làm sao để được nhận vào học.
2. Need-blind admission nghĩa là sao?
Ở một số trường trong cơ chế tuyển sinh có áp dụng chế độ need-blind trong quá trình tuyển sinh. Vậy need-blind nghĩa là sao? Nghĩa là hội đồng tuyển sinh (admissions committee tạm gọi là adcom) trong quá trình xét tuyển sẽ không quan tâm đến tình hình tài chính của một ứng viên, không quan tâm là anh ta có tiền để đóng tiền học phí và sinh họat không, không cần bíêt nhà anh ta giàu hay nghèo. Một khi anh ta được nhận và học thì trường sẽ đáp ứng nhu cầu tài chính của anh ta. (100% need met).
Chế độ need-blind tạo một điều kiện vô cùng thuận lợi trong quá trình xét tuyển cho ứng viên. Bởi những người xin hay không xin HTTC đều được đối xử như nhau VD: Harvard College.
Cũng cần lưu ý them là một số trường need-blind cho SV Mỹ nhưng lại không need-blind cho SV quốc tế như chúng ta. Các bạn cần phải xem xét yếu tố này trong khi chọn trường.
3. Need-aware admission nghĩa là sao?
Need-award là trái nghĩa của need-blind (bản thân blind cũng đã trái nghĩa với aware rùi). Những trường nào có cơ chế này thì các bạn không nên apply. Họ sẽ phân lọai thí sinh (bởi nguồn hỗ trợ tài chính của họ có hạn). Những thí sinh nào không xin finaid, họ xét chung với các SV khác như bình thường. Những thí sinh nào xin fin aid, họ để ra một bên và tuyển sinh theo số lượng có hạn, vì nguồn tài chính có hạn, chỉ những người vô cùng xuất sắc mới được chọn (admitted) và cho aid, những người còn lại, although highly qualified, đành phải chấp nhận thẻ đỏ (rejected).
Học bổng và HTTC mà mình đề cập trên đây đều là học bổng do trường xét và cấp. Ở đây, mình không đề cập đến các nguồn học bổng bên ngoài (VD: các tổ chức du học như, chính phủ, v.v…)
III. Những hình thức xét tuyển chung và hạn chót nộp đơn các đại học lớn:
Dưới đây là những hình thức xét tuyển của nhiều trường TOP trong National Universities và Liberal Arts Colleges. Tuy nhiên, không phải trường nào cũng có đủ tất cả các hình thức xét tuyển này. Mỗi trường sẽ có những chương trình xét tuyển nào tùy vào chính sách của họ. Đối với chường trình nộp regular decision, trường nào cũng có.
1. Applying Early Decision (ED).
Đây là hình thức apply của một thí sinh khi quyết định một trường nào đó là “first choice” của mình. Gọi nôm na cho dễ hiểu là nguyện vọng 1. Đối với dạng nộp đơn này, thí sinh nếu được nhận vào học thì bắt buộc phải học ở trường mình đã nộp ED và phải ngưng, không apply vào các trường khác. Và mỗi thí sinh chỉ được apply 1 trường ED mà thôi (cho nên mới gọi “nguyện vọng 1”). Do các tính chất trên cửa chương trình apply ED, thí sinh nếu apply ED sẽ được thông báo kết quả tuyển sinh sớm hơn các thí sinh nộp nguyện vọng bình thường.
Đối với những trường need-blind, thí sinh nộp ED sẽ có cơ hội được nhận vào cao hơn bình thường bởi vì nếu được nhận, họ sẽ phải học. Tuy nhiên, đối với những trường need-aware, nộp ED sẽ càng làm cơ hội được nhận của bạn giảm đi bởi adcom nghĩ rằng nếu như nhận bạn rồi sau này thấy các thí sinh khác giỏi hơn và bạn không xứng đáng, họ sẽ thấy hối hận khi nhận bạn và không muốn nhận bạn nữa.
2. Applying Regular Decision (RD).
Đây là hình thức nộp đơn bình thường, không phải là nguyện vọng một. Bạn muốn nộp bao nhiêu trường RD tùy thích. Không có sự bắt buộc nào cả, và khi được nhận vào qua RD, bạn có quyền từ chối không học ở trường mà bạn nộp RD
3. Applying Early Action (EA)
Hình thức nộp đơn này cũng giống ED nhưng khác ở chỗ không bắt buộc bạn phải học. Mục đích của việc apply EA là để cho bạn bíêt được kết quả xét tuyển sớm chứ không có gì cả. Do vậy EA sẽ giảm tối thiểu cơ hội được nhận vào của bạn. Nên đừng bao giờ nộp EA.
4. Hạn chót nộp đơn (Deadline)
Thời điểm apply bình thường là khỏang giữa hoặc cuối HK 1 của năm lớp 12. Thông thường, đối với apply RD, hạn chót của các trường top là khỏang 1/1 hoặc 15/12 hoặc 15/1 (tùy trường) và sẽ thông báo kết quả tuyển sinh vào 1/4. Tuy nhiên đối với ED và EA, hạn chót sẽ sớm hơn khỏang 1/11 hoặc 15/11 hằng năm (tùy trường) và sẽ thông báo KQ vào khỏang 15/12. Nhưng một số trường Liberal Arts Colleges (tạm gõi là LACs) sẽ có 2 đợt ED. Đợt 1 như trên, đợt 2 có deadline như RD và sẽ thông báo KQ vào khỏang giữa tháng 2.
Tức là bạn sẽ phải lo gấp rút chuẩn bị hồ sơ cũng như thi SAT, TOEFL sớm đấy.
Có 1 số trường bạn nộp ED, nếu họ thấy khó mà quyết định nhận bạn, họ sẽ chuyển (defer) bạn qua bên RD để xét chung với các applicants khác.
Bạn nên xem xét các yếu tố cũng như nguyện vọng của bạn trước khi apply ED. Bởi nếu được nhận ED vào 1 trường mà sau này lại được 1 trường khác (bạn thích trường này hơn) nhận bạn thì bạn vẫn phải thực hiện theo hợp đồng là vào học trường ED .
Hồng Hà(SSDH) – Theo Go.vn











